4 October, 2017 3:22 pm

BÁO CÁO SƠ KẾT THI HÀNH LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 TÌNH HÌNH HÌNH TRIỂN KHAI LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012

           1.Tình hình xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Hợp tác xã(HTX) năm 2012

           – Kế hoạch số 175/KH-UBND ngày 28/11/2013 của UBND Thành phố triển khai thực hiện Chương trình hành động số 24-CTr/TU ngày 19/9/2013 của Thành ủy Hà Nội về thực hiện Kết luận số 56-KL/TW ngày 21/01/2013 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến 2020;

           – Kế hoạch số 127/KH-UBND ngày 09/7/2014 của UBND Thành phố về triển khai thi hành Luật HTX trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2014-2016;

           – Kế hoạch số 54/KH-BCĐ ngày 11/3/2014 của Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể Thành phố về nhiệm vụ trọng tâm của Ban năm 2014;

           – Quyết định số 41/2014/QĐ-UBND ngày 20/8/2014 của UBND Thành phố về việc thu lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cung cấp thông tin về đăng ký kinh doanh đối với HTX, liên hiệp HTX trên địa bàn thành phố Hà Nội;

           – Kế hoạch số 69/KH-UBND ngày 08/4/2016 của UBND Thành phố triển khai thực hiện Kết luận số 56-KL/TW ngày 21/02/2013 của  Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và thực hiện Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh triển khai thi hành Luật HTX trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm 2020;

           Ngoài ra, các sở, ngành liên quan thuộc Thành phố ban hành các văn bản về phát triển kinh tế HTX thuộc các lĩnh vực sở, ngành quản lý.

           Đánh giá chung:

           Sau gần 05 năm triển khai thực hiện Luật HTX năm 2012, thông qua công tác tuyên truyền và thực tế triển khai thi hành luật HTX năm 2012, nhận thức của cán bộ, đảng viên các sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã, MTTQ, các đoàn thể chính trị – xã hội Thành phố và một bộ phận quần chúng nhân dân về vị trí, vai trò của kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố được nâng lên. Nhiều nơi, cán bộ, đảng viên và nhân dân đã ý thức được kinh tế tập thể – nòng cốt là HTX là thành phần không thể thiếu trong cơ cấu thành phần kinh tế của đất nước và Thủ đô, có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập, tạo việc làm và đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới ở các địa phương.

  1. Công tác triển khai, giám sát thi hành Luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện
  2. a) Tình hình triển khai hướng dẫn và thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về HTX:

           Công tác tuyên truyền, phố biến Luật HTX năm 2012 được triển khai đồng bộ từ Thành phố đến các quận, huyện, thị xã và các HTX; đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đã nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX trong quá trình phát triển đất nước theo nền kinh tế thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập, tạo việc làm và đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới ở các địa phương.

           Từ những thay đổi về nhận thức, nhiều HTX đã tìm được hướng đi mới, mở rộng thêm các ngành nghề, kinh doanh dịch vụ đa dạng đem lại hiệu quả cao, tạo được công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho thành viên; công tác lựa chọn cán bộ quản lý HTX đã có sự chuyển biến, các xã viên HTX đã quan tâm hơn đến việc lựa chọn người có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức tham gia vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của HTX; mối quan hệ, trách nhiệm  giữa thành viên xã viên và HTX cụ thể rõ ràng hơn; thu nhập của HTX và xã viên ngày càng nâng cao.

  1. b) Tình hình tổ chức và hướng dẫn đăng ký HTX theo Luật HTX năm 2012:

           Thực hiện Luật HTX năm 2012, Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26/5/2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn đăng ký HTX và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của HTX; Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo các sở, ngành phối hợp với UBND các huyện, quận, thị xã thực hiện lồng ghép nội dung hướng dẫn các HTX đăng ký theo Luật HTX năm 2012 thông qua các lớp tập huấn cán bộ HTX, chủ động liên hệ với đơn vịphụ trách của Công an Thành phố để hướng dẫn các HTX làm thủ tục khắc, đổi con dấu, tạo điều kiện thuận lợi các HTX thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế tại chi cục thuế các huyện, quận, thị xã. Đối với các HTX thành lập mới đều có hướng dẫn cụ thể với từng sáng lập viên trong thực hiện tư vấn thành lập làm đăng ký theo thông tư quy định; đối với HTX tổ chức lại hoạt động theo Luật, Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể các huyện, quận, thị xã đã xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Luật HTX năm 2012; từng huyện, quận, thị xã đã ban hành nghị quyết, kế hoạch về triển khai thực hiện Luật HTX năm 2012, củng cố, tổ chức lại hoạt động HTX theo Luật. Trên cơ sở Hướng dẫn số 306/HD-LMHTX ngày 03/12/2014 của Liên minh HTX về thực hiện các bước tiến hành tổ chức lại HTX theo Luật, Ban chỉ đạo các huyện, quận, thị xã đã triển khai kế hoạch rà soát các HTX trên địa bàn, thông qua các hội nghị, lớp tập huấn để hướng dẫn các HTX chuyển đổi, tổ chức lại hoạt động theo Luật HTX năm 2012.

  1. c) Tình hình đăng ký lại HTX theo Luật HTX 2012

           Tính đến 30/5/2017, trên địa bàn Thành phốđã có 1.318 HTX đã thực hiện tổ chức lại (chuyển đổi) đạt 74%(trong đó có 886 HTX nông nghiệp, 432 HTX phi nông nghiệp).

  1. d) Tình hình chuyển đổi HTX sang loại hình khác

           Tính đến thời điểm hiện tại theo báo cáo của các quận huyện và sở ngành liên quan, chưa có HTX nào thực hiện đăng ký chuyển đổi sang loại hình kháctrên địa bàn Thành phố Hà Nội.

           đ) Tình hình giải thể HTX theo quy định tại Điều 54 Luật HTX:

           Trên địa bàn Thành phố hiện nay có 281 HTX ngừng hoạt động, tồn tại danh nghĩa, chờ giải thể không đủ điểu kiện thực hiện tổ chức lại (chuyển đổi) theo Luật HTX năm 2012 và 82 HTX đã giải thể.

           Việc thực hiện thủ tục giải thể, xoá tên HTX của các quận, huyện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do công tác đối chiếu xác định nợ, chứng từ sổ sách của HTX không rõ ràng, tồn đọng về công nợ, tài sản của HTX nhiều năm chưa được giải quyết.

  1. g) Tình hình xây dựng mô hình HTX hoạt động hiệu quả theo đúng quy định của Luật HTX (về quy mô, công nghệ, thị trường, năng lực nội tại của HTX,…):

           Nhìn chung, các HTX đã tổ chức lại hoạt động và đang hoạt động theo Luật HTX năm 2012 trên địa bàn Thành phố Hà Nội cơ bản đúng Luật HTX hiện hành. Tuy nhiên, các HTX nông nghiệp quy mô toàn xã phần lớn là các HTX dịch vụ để phục vụ sản xuất nông nghiệp của các thành viên nên hiệu quả hoạt động chưa cao, các HTX còn lại hoạt động với quy mô nhỏ, phương thức canh tác truyền thống, công nghệ sản xuất lạc hậu, các sản phẩm đầu ra chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, giá cả không ổn định nên hiệu quả kinh doanh thấp.

  1. Tình hình triển khai thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ HTX
  2. a) Chính sách hỗ trợ, khuyến khích thành lập mới, bồi dưỡng đào tạo cán bộ HTX:

           Hàng năm, Thành phố đã bố trí ngân sách cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ HTX. Trong 04 năm (2013-2016) Thành phố đã giao:

           – Sở Nông nghiệp & PTNT tổ chức được 66 lớp bồi dưỡng, tập huấn tuyên truyền, phổ biến Luật HTX năm 2012, tuyên truyền công tác thực hiện Kết luận 56-KL/TW ngày 21/01/2013 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến 2020 cho 3.960 cán bộ HTX  với tổng kinh phí2.216 triệu đồng từ nguồn ngân sách Thành phố; triển khai kế hoạch tư vấn, hỗ trợ thành lập mới 63 HTX với tổng kinh phí 1.051triệu đồng.

           – Liên minh HTX thành phố tổ chức đào tạođược cho 6.002 người, với tổng kinh phí của ngân sách Thành phố cấp là 4.984 triệu đồng.

  1. b) Chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại:

           Thực hiện Thông tư số 171/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 của Bộ Tài chính đến nay đã có 8 HTX được hỗ trợ kinh phí thuê gian hàng tham gia hội trợ triển lãm giới thiệu sản phẩm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương chủ trì tổ chức với tổng kinh phí được hỗ trợ là 84 triệu đồng; 05 HTX công bố nhãn hiệu tập thể sản phẩm cam, nhãn.. được hỗ trợ 500 triệu đồng

  1. c) Chính sách hỗ trợ ứng dụng đổi mới công nghệ, khuyến nông, khuyến công:

           Thực hiện hỗ trợ các HTX theo các chương trình ứng dụng đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, khuyến nông (hỗ trợ đưa giống mới, công nghệ sinh học, bảo quản và chế biến nông sản, ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất rau an toàn, hoa, cây cảnh, xây dựng nhà lưới, kho lạnh) đến nay đã có 205 HTX được hỗ trợ 12.936 triệu đồng để đầu tư mua máy làm đất, máy thu hoạch, máy cấy, máy phun thuốc trừ sâu, làm mô hình nhà lưới…

  1. d) Kết quả thực hiện chính sách tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển HTX:

           – Theo báo cáo của Quỹ hỗ trợ phát triển HTX hiện có, tổng số nguồn vốn thành phố cấp là 125 tỷ, trong đóđến 31/12/2013, Quỹ hỗ trợ phát triển HTX thành phố Hà Nội đã hỗ trợ cho vay được 42 HTX và 326 tổ hợp tác (THT) với tổng số tiền giải ngân là: 100,75 tỷ. Năm 2014 đã hỗ trợ cho vay được 41 HTX và 201 THT với tổng số tiền giải ngân là: 91,66 tỷ đồng. Năm 2015 đã hỗ trợ cho vay được 30 HTX và 275 THT với tổng số tiền giải ngân là: 92 tỷ. Đến 31/12/2016, đã hỗ trợ cho vay được 40 HTX và 328 THT với tổng số tiền giải ngân là: 91,23 tỷ.

           Bên cạnh đó, thực hiện Nghị định số 55/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; đến nay có 6 HTX được vay vốn ngân hàng chính sách xã hội, 74 HTX nông nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ quỹ hỗ trợ phát triển HTX, mức lãi suất 6,3%/năm, với tổng mức vốn vay trên 63.150 triệu đồng để đầu tư đầu tư ứng dụng công nghệ sản xuất bảo quản nông sản, hoa, phát triển chăn nuôi bò sữa nuôi gà, ngan, vịt, lợn siêu nạc.

  1. e) Chính sách thành lập mới HTX, Liên hiệp HTX:

           Từ 31/12/2013 đến 31/12/2016, Liên minh HTX thành phố đã tư vấn, hỗ trợ thành lập mới được 105 HTX với tổng kinh phí của ngân sách thành phố cấp là: 1.945 triệu đồng.

  1. f) Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng:

           Đến nay đã có 25 HTX được hỗ trợ 22.000 triệu đồng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vùng sản xuất rau trong dự án QSEAP Thành phố và 01 HTX được hỗ trợ 4.000 triệu đồng để đầu tư xây dựng hệ thống xử lý môi trường chuồng nuôi.

  1. g) Chính sách Bảo hiểm xã hội: Trong 04 năm (2013-2016), Thành phố đã giải quyết chế độ chính sách đối với chủ nhiệm HTX có quy mô toàn xã trong thời kỳ bao cấp cho 533 chủ nhiệm HTX theo Quyết định 250/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng số tiền chi trả 2.296.964.775 đồng.

           4.Công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể

           UBND Thành phố đã quan tâm chỉ đạo các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã tăng cường thực hiện công tác quản lý nhà nước, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp hỗ trợ phát triển HTX gắn với thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị theo quy định Luật HTX năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành. UBND Thành phố trực tiếp thành lập Ban chỉ đạo Phát triển kinh tế tập thể của Thành phố, trong đó cử 01 đ/c Phó chủ tịch UBND Thành phố làm Trưởng Ban chỉ đạo, Liên minh HTX Thành phố là Phó Ban thường trực, Sở Kế hoạch và Đầu tư là Phó Ban, thành viên khác là đại diện các sở, ngành của Thành phố.

           Ở cấp Thành phố, công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể được giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội. Hiện nay, nhiệm vụ này Sở Kế hoạch và Đầu tư giao cho Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Sở đảm nhận. Ở cấp huyện, công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể được giao cho Phòng Tài chính Kế hoạch thực hiện.

  1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KỂ TỪ KHI LUẬT HỢP TÁC XÃ CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH (01/7/2013 ĐẾN 31/12/2016)
  2. Đánh giá chung về tình hình phát triển HTX
  3. a) Số lượng HTX:

           Tính đến 31/12/2016, trên địa bàn Thành phố Hà Nội có tổng số 1.764 HTX và Quỹ Tín dụng nhân dân (TDND). Trong đó có: 1.483 HTX, Quỹ TDND đang hoạt động gồm: 922 HTX nông nghiệp, chiếm 62,2%; 185 HTX Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN), chiếm 12,4%; 198 HTX  Thương mại – dịch vụ (TM-DV), chiếm 13,4%; 45 HTX Vận tải, chiếm 3,1%; 6 HTX Xây dựng, chiếm 0,4%; 29 HTX loại hình khác (y tế, trường học, vệ sinh môi trường…), chiếm 1,9%; 98 Quỹ TDND, chiếm 6,6%.

           Tính đến 30/5/2017, trên địa bàn Thành phố đã có 1.318 HTX đã thực hiện tổ chức lại (chuyển đổi) đạt 74% (trong đó có 886 HTX nông nghiệp, 432 HTX phi nông nghiệp); có 357 HTX chưa thực hiện tổ chức lại (chuyển đổi) theo Luật HTX năm 2012, đạt 26%.

           Về thành lập mới HTX: Từ năm 2013-2016, thành lập mới được 120 HTX, (95 HTX thuộc lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt; 25 HTX thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp). Có 274 HTX ngừng hoạt động, chờ giải thể và 82 HTX đã giải thể.

  1. b) Số lượng Liên hiệp HTX:

           Hiện nay, theo thống kê, Hà Nội có 06 Liên hiệp HTX – Trong đó: 02 Liên hiệp HTX ngừng hoạt động (Liên hiệp HTX Thương mại, Liên hiệp HTX xây dựng), 01 Liên hiệp HTX chưa chuyển đổi (Liên hiệp HTX ngành giấy), Liên hiệp HTX sản xuất tiêu thụ rau an toàn và Liên hiệp HTX chăn nuôi thủy sản hoạt động hoạt động rất khó khăn. Nhìn chung kết quả hoạt động thấp, chưa thể hiện được sức mạnh liên kết, gặp nhiều khó khăn về mặt bằng làm trụ sở, quy mô nhỏ, trình độ quản lý điều hành hạn chế, thiếu phương án SXKD, dịch vụ khả thi. Đến nay chưa có Liên hiệp HTX nào thực hiện tổ chức lại theo quy định Luật HTX năm 2012. Năm 2016, thành lập mới Liên hiệp HTX sản xuất tiêu thụ nông sản thực phẩm an toàn Hà Nội

  1. Đánh giá kết quả phát triển HTX theo lĩnh vực:
  2. a) Lĩnh vực nông nghiệp:

           – Trên địa bàn Thành phố hiện có 922 HTX (chiếm 62,2%). Doanh thu bình quân mỗi HTX trên 990 triệu đồng, số HTX có lãi chiếm 67%, số HTX hòa vốn là 18%, số HTX lỗ là 15%; lãi bình quân là 75 triệu đồng/HTX, nhiều HTX đã có lãi từ 100 – 300 triệu đồng, vốn quỹ HTX được bổ sung, phân phối lãi cho thành viên được tăng thêm.

           – Tổng số cán bộ trực tiếp quản lý, điều hành và hoạt động chuyên môn trong HTX là 8.258 người (cán bộ Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, bộ phận Kế toán là 4.537 người, cán bộ chuyên môn khác là 3.721 ngưòi). Tổ chức bộ máy quản lý của các HTX bình quân từ  11 – 15 người. Số cán bộ có trình độ trung cấp trở lên trong Hội đồng quản trị chỉ chiếm 28,5%, trong Ban Kiểm soát chiếm 16,2%, kế toán chiếm 45,4%. Tổng số thành viên HTX trên 1,018 triệu thành viên, hầu hết là các hộ gia đình nông dân tham gia.

  1. b) Lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN):

           Trên địa bàn Thành phố hiện nay có 185 HTX CN-TTCN, chiếm 12,4% tổng số HTX và tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành (70% số HTX tập trung chủ yếu tại các quận nội thành như: Hai Bà Trưng, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai…). Số lượng HTX có xu hướng giảm do sản xuất gây ô nhiễm phải chuyển sang kinh doanh thương mại dịch vụ (TMDV).

           Lao động hiện chỉ còn trên 4,3 nghìn người (chiếm tỷ trọng thấp nhất – 0,83%) so với lao động công nghiệp ngoài nhà nước và chiếm 0,61% so với tổng số lao động công nghiệp trên địa bàn Hà Nội). Số lượng lao động bình quân chỉ đạt 24 lao động/HTX. Số lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp, trình độ đại học tại HTX chưa đạt được mức bình quân 1 người/HTX.

  1. c) Lĩnh vực Giao thông vận tải:

           Hiện có 45 HTX Vận tải – chiếm 3,1% tổng số HTX toàn thành phố. Các HTX đã tập trung củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng mạng lưới kinh doanh, thực hiện nghiêm các văn bản chuyên ngành của Nhà nước về kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.

           Nhìn chung, hiệu quả hoạt động của đa phần các HTX vận tải không cao. Trình độ cán bộ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của các HTX hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa được đầu tư đổi mới nhiều, các HTX thành lập mới đa số chỉ có trụ sở giao dịch (sử dụng chung với sinh hoạt gia đình), không có nhà xưởng, gara, một số HTX tuy có mặt bằng nhưng cơ sở trang thiết bị cũ, lạc hậu, không phát huy được nội lực của HTX.

  1. d) Lĩnh vực Thương mại dịch vụ (TMDV):

           Tổng số HTX TMDV trên địa bàn Thành phố hiện nay có 198 HTX – chiếm 13,4% tổng số HTX toàn Thành phố. Tổng số xã viên, lao động trên 10 nghìn người; vốn hoạt động trung bình của 01 HTX khoảng 5 tỷ đồng. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là liên kết tổ chức Kinh doanh tổng hợp (KDTH), dịch vụ sửa chữa máy móc, thiết bị điện, kinh doanh may mặc, đồ gỗ, các mặt hàng nhựa, mây tre, đồ da, sơ chế xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ ăn uống, cho thuê văn phòng, đầu tư xây dựng và quản lý kinh doanh khai thác chợ, dịch vụ vui chơi giải trí…

           Phần lớn các HTX chưa tổ chức liên kết với các thành phần kinh tế khác để cùng tham gia sản xuất kinh doanh hoặc chưa vận động được các tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn; các HTX khu vực ngoại thành hoạt động nhỏ lẻ, phân tán, chưa đáp ứng được nhu cầu là nhà thu mua các sản phẩm nông nghiệp cho nông dân, thu nhập của HTX còn thấp.

  1. e) Lĩnh vực xây dựng:

           Hiện nay có 6 HTX Xây dựng – chiếm 0,4% tổng số HTX toàn Thành phố. Do tác động ảnh hưởng của thị trường bất động sản chưa hoàn toàn phục hồi, nhu cầu xây dựng của người dân giảm nên hoạt động của các HTX xây dựng gặp nhiều khó khăn, có nhiều hạn chế như: quy mô vốn nhỏ, năng lực về tài chính, nhân lực, máy móc thiết bị, phương tiện thi công chưa đầy đủ và chịu tác động, ảnh hưởng theo những đặc thù của ngành xây dựng nên khó trúng thầu các công trình lớn hoặc hiệu quả đầu tư thấp, chủ yếu nhận thầu các công trình dân dụng.

  1. g) Lĩnh vực Quỹ Tín dụng nhân dân (TDND):

           Tính đến 31/12/2016, toàn Thành phố có 98 Quỹ TDND – chiếm 6,6% với tổng số 118.167  thành viên tham gia, giảm 5.990 thành viên so với cuối năm 2015. Tổng nguồn vốn của 98 Quỹ đạt 9.215 tỷ đồng, tăng 1.226 tỷ (tăng 15,4%) so với cuối năm 2015 – Trong đó vốn điều lệ các Qũy trên toàn địa bàn là 284 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cuối năm 2015. Tổng dư nợ đến cuối 2016 đạt 5.319 tỷ đồng tăng 493 tỷ đồng (tăng 10,2%) so với 31/12/2015. Nợ xấu của các Qũy TDND trên địa bàn là 87,6 tỷ đồng chiếm 1,65% so tổng dư nợ cho vay. Tiền gửi  các Tổ chức tín dụng là 3.363 tỷ đồng, chiếm 36,5% tổng tài sản. Kết quả kinh doanh tính chung các quỹ có lãi trên 50 tỷ đồng (bình quân 500 triệu đồng/quỹ). Tuy nhiên vẫn có hơn 10 Quỹ Tín dụng bị lỗ (xếp loại Quỹ yếu kém) và 3 Quỹ chuẩn bị phá sản (Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh Thành phố Hà Nội).

           III. TỒN TẠI KHÓ KHĂN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

  1. Những tồn tại, khó khăn
  2. a) Về phía cơ quan nhà nước:

           – Công tác tuyên truyền vận động làm thay đổi nhận thức của cán bộ, thành viên về hoạt động của HTX kiểu mới còn hạn chế; Nhận thức về vai trò, vị trí, mô hình HTX kiểu mới của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, thành viên HTX và nhân dân chưa đầy đủ, chưa thật tin tưởng, nhiệt tình hưởng ứng đóng góp xây dựng phát triển mô hình HTX kiểu mới theo Luật HTX 2012. Thành viên nhiều HTX chưa ý thức đầy đủ được nghĩa vụ của mình trong HTX, còn có tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

           – Các chính sách hỗ trợ phát triển HTX chưa đồng bộ, kịp thời, một số nội dung chưa sát với thực tiễn như: chính sách ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế, thủ tục đất đai…

           – Công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX còn gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý liên quan đến đất đai (do qua nhiều năm sử dụng nên ranh giới, mốc giới biến động không rõ ràng, giấy tờ về nguồn gốc đất không đầy đủ).

  1. b) Về phía các HTX

           – Đa số các HTX, nhất là HTX nông nghiệp chưa có kỹ năng xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, vẫn tổ chức theo mô hình cũ, chủ yếu tập trung vào các dịch vụ truyền thống, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, giống, vật nuôi mới vào sản xuất chậm, chưa thu hút được cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật được đào tạo về làm việc ở HTX. Các HTX phi nông nghiệp vẫn giữ thói quen bán hàng truyền thống, chưa chú trọng thiết kế kiểu dáng, mẫu mã, bao bì đẹp nên khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế, tốc độ tăng trưởng chậm; liên kết, hợp tác giữa các HTX còn yếu, mô hình Liên hiệp HTX chưa phát huy được hiệu quả.

           – Công tác quản lý tài chính, hạch toán kế toán của các HTX còn hạn chế, ghi chép sổ sách, chứng từ chưa đúng quy định, dẫn đến nhiều bất cập trong việc thực hiện chính sách thuế đối với các HTX và tổ chức lại HTX theo Luật HTX năm 2012; việc đăng ký thành viên tham gia HTX và nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ cho thành viên còn nhiều khó khăn do quy định của Luật HTX năm 2012 phải đảm bảo tỷ lệ cung ứng dịch vụ từ 50 – 68% đối với thành viên nên ở một số HTX chỉ đưa ra vốn góp tối thiểu nhỏ (từ 100.000 – 200.000 đồng/thành viên).

  1. Giải pháp, kiến nghị và đề xuất:
  2. a) Giải pháp:

           – Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến về Luật HTX và hướng dẫn, quy định liên quan về các chương trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới cho cán bộ, xã viên nâng cao nhận thức về HTX kiểu mới; vận động, khuyến khích thành lập mới các HTX, liên hiệp HTX theo Luật.

           – Triển khai hiệu quả Chương trình hỗ trợ phát triển HTX theo Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó đẩy mạnh các nội dung hỗ trợ, tạo điều kiện cho các HTX mới thành lập theo Luật HTX 2012. 

           – Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động cho cán bộ HTX các kiến thức quản lý chuyên môn về HTX, về kinh tế thị trường, công tác chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho xã viên.

           b)Kiến nghị:

           – Đề nghị tăng cường chỉ đạo tuyên truyền sâu rộng về kinh tế tập thể, về mô hình HTX kiểu mới, Luật HTX năm 2012.

           – Chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Nghị quyết và Luật HTX một cách thường xuyên.

           -Đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 193/2003/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ và Nghị định về chính sách đối với HTX nông nghiệp; chỉ đạo việc truy đóng bảo hiểm xã hội cho cán bộ quản lý HTX từ thời điểm Luật HTX năm 1996 đến năm 2003

  1. Đánh giá chung

           Sau khi Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực thi hành, nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ hợp tác xã được ban hành, đóng góp, hỗ trợ hiệu quả cho sự phát triển của các hợp tác xã. Kinh tế Hợp tác xã ngày càng có vai trò quan trọng đối với thành viên trong việc cung cấp vật tư đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), dịch vụ nông nghiệp (thủy lợi, chuyển giao TBKT, làm đất…), tổ chức cho các hộ nông dân sản xuất theo quy trình chung và thực hiện hỗ trợ, bán chung các sản phẩm đầu ra cho thành viên và nông dân trên địa bàn. Một số mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả, giúp thành viên tổ chức sản xuất và cạnh tranh tốt hơn trong nền kinh tế thị trường.

           Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trong thời gian qua còn có nhiều hạn chế, mặc dù nhiều chính sách mới ưu đãi, hỗ trợ đổi mới, phát triển hợp tác xã nhưng kinh phí hỗ trợ bố trí rất ít hoặc chưa được bố trí; chưa đồng đều giữa các khâu sản xuất- sơ chế, chế biến- tiêu thụ; chưa có nhiều hỗ trợ trực tiếp cho hợp tác xã; chính sách về hỗ trợ liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đã có nhưng số hợp tác xã có liên kết với doanh nghiệp còn rất ít do hoạt động của hợp tác xã yếu kém khó thực hiện được hợp đồng liên kết; việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ cho hợp tác xã về vốn, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,… còn phức tạp, rườm rà về thủ tục.